This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Showing posts with label Suy ngẫm. Show all posts
Showing posts with label Suy ngẫm. Show all posts

1/20/2010

The six thinking hats

[The six thinking hats] Tư duy 6 mũ

Tư duy 6 mũ được thế giới biết đến với tên de Bono Hats system ( “Six Hats” hay “Six Thinking Hats”) là một công cụ tư duy cho phép chúng ta đưa ra quyết định chính xác và nhanh chóng trước 1 vấn đề và có những ý tưởng, phương án, dự trù về nó.Bạn có thể dùng công cụ này một mình, nhưng sẽ tốt hơn nhiều khi bạn thảo luận cùng nhóm của mình. Kết hợp với ý tưởng của tư duy song song, công cụ này giúp nhóm tư duy cùng nhau hiệu quả hơn, và có ý nghĩa khi quá trình tư duy được thực hiện tới mức chi tiết và kết dính. Phương pháp “tư duy 6 mũ” được tiến sĩ Edward de Bono đưa ra năm 1980, và được ông mô tả chi tiết trong cuốn “The six thinking hats” xuất bản năm 1985.

Chi tiết về Dr EDWARD DE BONO

Có lẽ chưa bàn tới tác dụng, hay hiệu quả của phương pháp này trong việc giải quyết vấn đề, bạn hãy tạm tin nó thực sự rất có tác dụng, và hãy cùng thực hiện phương pháp này cùng svcoi.

Tóm tắt nội dung phương pháp :

- Mỗi khía cạnh của 1 vấn đề sẽ được gán với một chiếc mũ, tương ứng với mỗi khía cạnh là một màu đặc trưng. (do Não chúng ta tư duy bằng hình ảnh, sẽ dễ dàng hơn nếu dùng màu đặc trưng).

-Nội dung mỗi khía cạnh ứng với các mũ theo sơ đồ tư duy sau :


-Bước đầu áp dụng, bạn có thể hiểu đơn giản :

- Mũ trắng : là mũ thông tin

- Mũ đỏ : là mũ cảm xúc

- Mũ vàng : là mũ lợi ích

- Mũ đen : là mũ rủi ro

- Mũ xanh lục : là mũ giải pháp.

- Mũ xanh da trời: là mũ tổng quan.

- Mũ xanh da trời : là mũ tổng quan.

- Lưu ý : Bạn cũng không nhất thiết phải dùng sơ đồ tư duy (mind map) để ghi chép lại. Nhưng một phần do thói quen, phần nữa là sơ đồ tư duy sẽ giúp chúng ta nhìn được vấn đề một cách tổng quát hơn, rất dễ cho việc quyết định và chi tiết các khía cạnh của vấn đề nên svcoi dùng trong bài viết này.

Các bước thực hiện :

- Nếu bạn thực hiện một mình : hãy tưởng tượng bạn lần lượt được đội 6 chiếc mũ. Với từng chiếc mũ hãy cố gắng tập trung suy nghĩ xét toàn bộ nội dung của chiếc mũ bạn đang đội,càng chi tiết càng tốt. Hết chiếc mũ này bạn hãy chuyển sang chiếc mũ khác ,thứ tự mình nghĩ ở đây nên là :

Trắng -> Đỏ->Vàng-> Đen-> Xanh lục-> Xanh da trời

- Nếu bạn thực hiện cùng nhóm : Hãy là nhóm trưởng điều chỉnh nhịp độ cũng như độ nóng của nhóm. Cùng các thành viên đội 6 chiếc mũ một cách lần lượt. Chú ý tập trung thời gian cho mối mũ một cách cân đối, tùy theo tình hình

Hoặc bạn cũng có thể để các thành viên, mỗi người đội lên mình một chiếc mũ, nhưng những thành viên còn lại trong nhóm cũng có thể được góp ý kiến vào nội dung của chiếc nón mà họ không đội (chú ý giữ đủ thời gian cho mỗi nón màu). Chiếc mũ mà mỗi thành viên đội lên chỉ mang tính chất định hướng suy nghĩ cho người đó, không mang tính chất phân loại thành viên, cho dù thành viên đó thường có lối suy nghĩ tương tự, hay giống với chiếc mũ mà mình đội lên (tránh xung đột trong nhóm ).

vd : Một buổi picnic ở công viên Thủ Lệ cho nhóm 12 thành viên nhóm học hiệu quả vào ngày chủ nhật tuần tới.

- Bước 1 : Mũ trắng - Chứa toàn bộ thông tin thực tế, khách quan về vấn đề chúng ta đang xét đến.Có thể hiểu đây là mũ có ý nghĩa :”Hãy trút bỏ toàn bộ những dự tính, thành kiến và cùng nhau nhìn vào sự thật,và dữ liệu “.

vd : Số lượng người tham dự: 6
Địa điểm : công viên Thủ Lệ
Thời gian : Chủ nhật tuần tới
Thời tiết: ( dự báo ) trời nắng đẹp
Thông tin thêm : chưa thành viên nào đến công viên này bao giờ

Bước 2 : Mũ đỏ – Không cần biết đúng hay sai, đó là những cảm giác, trực giác, cảm xúc đối với vấn đề đang xét. Với mỗi người khác nhau sẽ có những cảm xúc khác nhau, thậm chí là trái ngược. Nhưng cảm xúc ,cảm giác,hay trực giác thì không cần phải thuyết phục hay bào chữa,thay vào đó có thể hiểu rõ vấn đề hơn.

vd: – vui , háo hức , lo lắng (có thể do chưa tới bao giờ )


- Bước 3: Mũ Vàng: – Là những mặt lợi ích và tích cực của vấn đề đem lại. Nó cũng có thể dùng để đánh giá những mặt lợi ích, tính cực của mũ màu xanh lục (trong trường hợp bổ xung thêm sau khi điền đủ nội dung của các mũ).

vd : – Thư giãn
– Gắn kết các thành viên hơn
– Học thêm kỹ năng qua việc chơi trò chơi trong chuyến picnic
– Thể hiện cá tính ,năng lực thành viên

Bước 4: Mũ đen : – Là mũ đưa ra những tiêu cực, rủi ro khi thực hiện vấn đề. Nó cũng dùng để phê bình, phản biện các nội dung của mũ màu xanh lục.

vd : – Phức tạp trong di chuyển: lạc đường, phương tiện đi lại
– Tốn thời gian của nhóm (vì làm việc không phục vụ mục tiêu) – Thời gian cao su của thành viên -> khó bắt đầu đúng kế hoạch(cái này là thói quen của ngươì Việt )



Bước 5: Mũ xanh lục : – Đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề, cũng như khắc phục những rủi ro, mặt tiêu cực được tính đến trong mũ đen. Mũ này cũng là mảnh đất để phát huy tính sáng tạo, các ý tưởng mới cho vấn đề đang giải quyết

vd : – search trên internet vị trí và đường đi tới công viên –> giải quyết việc lạc đường
– Lồng ghép kỹ năng trong các trò chơi tập thể : teamwork, giải quyết vấn đề. .. -> vừa học, vừa chơi
– Hẹn thời gian cố định, ai cao su, mức thưởng sẽ là 20k –> sợ không dám cao su nữa

Bước 6: Mũ xanh da trời : Là mũ tổng hợp lại vấn đề, nhìn lại những mũ ở trên. Nó sẽ không đi chi tiết vào nội dung của từng mũ mà chỉ cân nhắc sự ổn thỏa, và ra quyết định.

vd: – Các vấn đề đã giải quyết .
– Quyết định : Đi


Nếu đến đây, bạn hay nhóm của bạn chưa thể đưa ra quyết định, bạn lại làm lại chu trình trên để bổ sung thêm ý vào các mũ, đưa ra quyết định cuối cùng.

Vừa rồi, mình đã chia sẻ các bước sử dụng tư duy 6 mũ vào việc giải quyết vấn đề.(Trong phạm vi bài viết ví dụ còn đơn giản, bạn có thể tạo vấn đề để cùng nhau giải quyết )Hi vọng các bạn có thể áp dụng nó để giải quyết các vấn đề bạn gặp phải để ra quyết định,và thực hiện nó. Về tác dụng của phương pháp này, minh xin phép không đề cập ngay trong bài viết này. Hi vọng các phản hồi của bạn về nó trong blog mình, sẽ giúp mình đánh giá được hiệu quả của nó trong 1 bài việt trong thời gian sớm nhất .Bạn cũng có thể chia sẻ thêm góc nhìn thú vị mà bạn trải nghiệm phương pháp này để mình và các bạn khác cùng học hỏi.

quangcaopro -

1/19/2010

Xin hãy lắng nghe lời con trẻ

Tác giả: Nguyễn Vũ Lam
 

Chúng ta có thể dạy đứa trẻ một con chữ, giúp nó hình thành một ý thức, một lối sống có văn hoá ngay từ nhỏ. Nhưng sẽ thật khó khăn để thay đổi một thói quen đã ăn vào máu thịt của một người đã trưởng thành. Chúng ta có thể yêu cầu anh ta không được có những hành động thiếu văn hóa ở chỗ này, nhưng ai dám chắc anh ta sẽ lại không hành động như vậy ở nơi khác…

Nếu bữa sáng của bạn là một ly café, một gói bánh quy hay một cốc sữa thì tôi lại trung thành với bún Huế vỉa hè.

Con phố Trưng Nhị - Hà Đông vẫn tấp nập người và xe, những chiếc xe lùi lại tiến đầy khó khăn trong con ngõ chật hẹp. Trên vỉa hè, những dãy bàn ghế được kê ngay ngắn, những lọ dấm, ớt, những rổ rau sống rất hấp dẫn. Chiếc bếp than hồng rực lửa. Nồi nước dùng đang sủi ùng ục, bốc khói nghi ngút sau mỗi lần mở vung. Đôi bàn tay nhanh nhẹn, mau lẹ của hai mẹ con bác bán bún đưa liên hồi, hết chao lại múc mà vẫn không kịp phục vụ cho khách. Giọng nói đặc sệt miền Trung của bà chủ quán vẫn cất lên liên tục đầy sự cảm thông, áy náy mỗi khi khách than phiền không có chỗ ngồi hay phải đợi lâu.

Chờ đợi mãi, cuối cùng, tôi cũng kiếm được cho mình một chỗ ngồi khiêm tốn. Đây không phải lần đầu nhưng lần nào tôi cũng kiên trì chờ đợi vì tôi vốn là người rất biết chiều chuộng thói quen và sở thích của mình. Quán bún vỉa hè này có đầy đủ các thành phần thực khách, từ người bình dân đến người sang trọng. Ai cũng kiên trì nán lại đây để được thưởng thức một bát bún ngon.

Bún Huế là một món ăn không lạ với người Hà Nội. Nó có vị ngon rất đặc trưng của Huế. Tôi thích ăn bún Huế vào những buổi sáng mùa đông. Nó vừa nóng, lại hơi cay. Nó làm tôi nóng bừng sau mỗi lần hít hà.

Bát bún được bê đến cho tôi trước sự thèm thuồng của những kẻ chờ đợi. Sẽ là một bát bún ngon tuyệt nếu không có những tiếng khạc nhổ ten tét, những bãi nước bọt phun ra ngay trước mặt trong sự ngỡ ngàng, kinh khiếp của tôi. Trước mắt tôi không phải là một đứa bé mà bảo nó chưa biết gì, cũng không phải một bà già hay ông già mà bảo lẩm cẩm. Đó càng không phải những bác nông dân chân lấm tay bùn để đổ lỗi “Hai lúa mới ra” không hiểu biết, tuỳ tiện, thiếu văn hoá. Mà đó là một thanh niên trẻ, có học thức, ăn mặc chỉn chu, lịch sự, xài điện thoại sành điệu. Đây có phải là “tư duy tiểu nông” hay “văn hoá nông dân” mà nhiều người thành phố vẫn hay biện minh cho những hành động thiếu văn hoá của mình? Một hành động rất thoải mái, tự nhiên mà không hề có phản ứng hay biểu hiện của sự ngượng ngùng trước những con mắt ngạc nhiên đổ dồn về phía anh ta.



Hình minh hoạ

Nhìn cách anh ta chăm chút cho hình thức bên ngoài, từ đôi giày đánh xi bóng nhoáng, đến cách ăn mặc cầu kỳ, ít ai có thể tin được hành động mà anh ta đã làm. Điều đó đã tố cáo một lối sống tuỳ tiện, phóng túng của nhiều thanh niên trẻ hiện nay. Giá như anh ta cũng có thể chăm chút cho nhân cách, cho ý thức của mình bằng một phần mười cái cách mà anh ta đang chăm chút cho hình thức bên ngoài thì có lẽ anh ta đã được mọi người đón nhận với một ánh mắt hoàn toàn khác.

Điều đó cũng lý giải tại sao ngày càng nhiều những nam thanh nữ tú, xài hàng hiệu, đi SH, @ nhưng vẫn nói những lời lẽ không đẹp, vẫn văng những câu chửi thề, vẫn vừa phóng như điên trên những chiếc xe đắt tiền, vừa nhai vừa cắn, vừa vứt những vỏ hạt dưa, hạt bí… Đó là do họ không nhận thức được việc làm của mình. Đó là hậu quả của lối sống dễ dãi, đua đòi, là do họ không được giáo dục tới nơi tới chốn. Họ không hiểu được thế nào là văn hoá cộng đồng, là văn hoá giao tiếp, văn hoá ứng xử trong xã hội. Họ không được giáo dục phải biết sống có trách nhiệm và phải chịu trách nhiệm với việc làm của mình. Đó là tư duy của lối sống ích kỷ, không biết tự trọng, không biết nghĩ đến lợi ích của tập thể, của cộng đồng.

Tại sao khắp nơi trong thành phố Hà Nội, đâu đâu cũng thấy chằng chịt những tờ quảng cáo, tiếp thị dán chồng chất lên nhau? Phải chăng là bởi vì ai cũng muốn đặt lợi ích của mình lên trước hết mà không cần quan tâm nó ảnh hưởng như thế nào đến xã hội, đến cảnh quan môi trường, đến đời sống tập thể…? Lại chỗ khác những túi nilon, những bọc rác thải được quăng, vứt bừa bãi. Hay câu chuyện rình lúc không có hàng xóm ở nhà để dắt chó sang tè bậy… Họ chỉ biết đến lợi ích của họ. quyền lợi của họ. Cứ như thế thì làm sao Hà Nội lại không lem nhem sau mỗi đợt bóc, xoá. Người đi bóc đằng trước, lại có người thậm thụt dán trộm đằng sau. Như thế thì đến bao giờ chúng ta mới thấy một Hà Nội sạch, một Hà Nội văn minh.

Không thể đem câu chuyện của một thanh niên được ăn học đàng hoàng, một người lịch lãm, thành đạt để so sánh với một đứa trẻ lên ba. Thế nhưng ý thức, hành động của anh ta thì lại thể hiện sự xuống cấp nghiêm trọng của văn hoá trong giới trẻ, cũng như văn hoá nơi công cộng.

Có lần, tôi tình cờ nghe được câu chuyện của một cặp vợ chồng cùng đứa con trai khoảng ba tuổi. Khi đó, đứa trẻ đòi hút sữa. Sau khi hút hết hộp sữa, cháu bé liền đưa vỏ hộp sữa cho mẹ. Mẹ cháu bé định vứt ngay vệ đường thì lập tức cháu bé ngăn lại. Câu nói của cháu bé không chỉ làm bố mẹ cháu mà ngay cả tôi cũng phải ngạc nhiên. Cháu nói với mẹ bằng thái độ rất nghiêm túc:

Mẹ ơi, ở đây có bãi rác nào không hả mẹ?

Không có con ạ, mẹ vứt ở ven đường cũng được.

Không mẹ ơi, hay mẹ cứ đưa cho con cầm, khi nào thấy bãi rác thì mẹ bảo con để con vứt nhé.

Một đứa trẻ còn đang học nói mà đã có được câu nói như vậy. Có thể câu nói đó chỉ là vô thức nhưng nó là một bài học giá trị cho ý thức của người lớn chúng ta. Có một sự thật trái chiều, khi người ta nói “trẻ con như búp trên cành”, “như trang giấy trắng” để nói nên những ảnh hưởng từ việc làm, lời nói và hành động của người lớn đối với tâm lý, tới việc hình thành nhân cách của trẻ nhỏ thì câu chuyện vừa rồi chẳng phải chính đứa trẻ lên ba đó lại đang dạy những người lớn chúng ta một bài học về ý thức, về văn hoá nơi công cộng hay sao?

Điều đó cũng thật dễ hiểu vì sao một đứa trẻ lại có thể thuộc những câu chửi, còn nhanh hơn những lời chào hỏi. Chúng ta đã không ít lần cảm thấy khó chịu, có khi nổi giận với những câu nói, câu chửi bậy của chúng. Thế nhưng chúng ta lại không kiên nhẫn để tìm hiểu những câu nói ấy được chúng học từ đâu, ai đã nói cho chúng nghe? Có phải chúng đã học từ chính những người lớn chúng ta?

Dù là hành động của người thanh niên hay câu nói của đứa trẻ lên ba thì cũng đáng để chúng ta phải suy nghĩ. Chúng ta có thể dạy đứa trẻ một con chữ, xây dựng cho nó một ý thức, một lối sống có văn hoá. Nhưng sẽ thật khó khăn để thay đổi một thói quen đã ăn vào máu thịt của một người thanh niên đã trưởng thành. Chúng ta có thể yêu cầu anh ta không được khạc nhổ chỗ này, nhưng ai dám chắc anh ta sẽ lại không hành động như vậy ở nơi khác. Và những đứa trẻ chúng sẽ làm gì khi chứng kiến những việc làm phi văn hoá của người lớn?

Cái cốt lõi không phải là bắt họ làm như thế này hay thế khác mà chúng ta phải biết cách giáo dục để họ ý thức được việc làm của mình, phải biết cách khơi dậy, đánh thức lòng tự trọng thường trực trong họ, để từ đó họ có những hành động, những cư xử có văn hoá, văn minh nơi công cộng.

quangcaopro - Theo tuanvietnam

1/18/2010

“Tự do – Dũng cảm là chính bản thân mình”

Tác giả: Linh Thủy

"Tự do - trong bản thân nó không có nghĩa, chừng nào nó còn chưa là tự do vì cái gì đó... Tự do chỉ cung cấp cơ hội cho bạn, tự nó không phải là mục đích."

Tên thật của Osho là Rajneesh Chandra Mohan Jain (ông còn được biết đến với cái tên Bhagwan Shree Rajneesh). Chữ "Osho", một danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là "đạo sư" của một dòng Thiền.

Với hàng trăm tác phẩm, hàng ngàn bài giảng để lại, Osho là bậc thầy mang tầm ảnh hướng trong toàn bộ nền triết học phương Đông.

Những tác phẩm của ông có sức hút mãnh liệt với người đọc. Nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần. Nhưng người ta vẫn tiếp tục tranh cãi không ngớt về nó.

Osho bị/được coi như là một kẻ "nổi loạn". Rất ít người đi đến được sự đồng cảm với ông. Nhưng dù có phát cáu lên vì lối lập luận "bất chấp lẽ thường" của vị luận sư này, người ta vẫn cứ tiếp tục tìm đọc, vì một lẽ gì đó rất hợp lý.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu tới bạn đọc cuốn "Tự do - Dũng cảm là bản thân mình" của Osho, do Ngô Trung Việt dịch.

Tự do tuyệt đối


"Tự do thực sự mang tính tâm linh"

Osho phân tích về tự do với ba chiều kích: chiều vật lí, chiều tâm lí, và cuối cùng là cái tự do tối thượng - tự do tâm linh.

"Bạn gọi tự do là gì? Phần lớn đều là chính trị, kinh tế, tự do bên ngoài, cái không ở trong tay bạn, cái đã được trao cho bạn. Nó có thể bị lấy đi. Chỉ cái đã lớn lên bên trong bạn mới không thể lấy đi khỏi bạn được.

Tự do thực sự không mang tính chính trị, kinh tế, xã hội; tự do thực sự mang tính tâm linh."

Ba dạng thức của tự do được mô tả: "Tự do với, thoát khỏi những ràng buộc về quốc tịch, nhà thờ, đảng phát, giống nòi, ý thức hệ. Khi đạt tới tự do này, bạn sẽ thấy nhẹ nhàng, và sung sướng. Và lần đầu tiên bạn sẽ cảm thấy bắt đầu hân hoan trong tính cá nhân riêng của mình.

Câu hỏi tiếp theo là: "Tự do vì cái gì? Tự do trong bản thân nó không có nghĩa, chừng nào nó còn chưa là tự do vì cái gì đó, cái gì đó sáng tạo."

Nhưng rồi như thế chưa đủ.

"Bạn cần hoặc là tạo ra cái gì đó, hoặc đem tiềm năng của mình vào thực tại hoặc đi vào bên trong để tìm ra bản thân mình. Bạn cần làm cái gì đó với tự do của mình. Tự do chỉ cung cấp cơ hội cho bạn, tự nó không phải là mục đích."

Đây mới là điều tận cùng của tư tưởng Osho về tự do.

Tình yêu

Một luận điểm căn bản trong tư tưởng của Osho là tôn trọng sự thiêng liêng của mỗi người, mỗi sự vật. Tất cả đều có sẵn Thượng đế bên trong. Tất cả đều là Thượng đế.

Ông viết: "Không một người nào được sinh ra trong thế giới mà không có khả năng nào đó làm cho người đó tự hào, người không thai nghén cái gì đó để tạo ra, để cho sinh thành cái gì đó mới và đẹp, để làm cho sự tồn tại giàu có hơn. Không một người nào đã tới thế giới này mà trống rỗng."

Trên cơ sở đó, mọi cá thể đều cần được tôn trọng tuyệt đối, để họ được chính là bản thân mình.

"Tình yêu đích thực chỉ khi nó cho tự do. Hãy để điều này là tiêu chuẩn. Tình yêu là đúng chỉ khi nó không can thiệp vào tình riêng tư của người khác.

Nhưng những người yêu mà bạn thấy trên khắp thế giới, toàn thể nỗ lực của họ là ở chỗ không cái gì được phép riêng tư... Họ sợ tính cá nhân, họ phá hủy tính cá nhân của nhau và họ hi vọng rằng bằng việc phá hủy lẫn nhau, cuộc sống của họ sẽ trở thành sự mãn nguyện.

Họ đơn giản trở nên ngày một khổ sở hơn."

Cha mẹ chỉ là người giúp đỡ cho con cái tự do


Luận sư Osho

Ông cũng có thái độ rất thẳng thẳn trong mối quan hệ giữa người sinh ra và người được sinh ra. Đó không thể là ràng buộc để người này phải chấp thuận các ý chí áp đặt của người khác.

Osho nói một cách rất rành mạch để cởi bở những nút thắt về sự hàm ơn và quyền hành trong mối quan hệ cha mẹ - con cái:

Phải có lòng dũng cảm và tình yêu mênh mông trong người cha, người mẹ, để nói với con cái: "Con cần tự do với chúng ta. Đừng vâng lời chúng ta, hay tùy thuộc vào sự thông minh riêng của con. Cho dù con có đi lạc lối, điều đó tốt hơn nhiều vẫn còn là nô lệ và bao giờ cũng đúng. Tốt hơn cả là hãy phạm sai lầm theo cách riêng của mình và học tư chúng, thay vì tuân theo ai đó khác và không phạm sai lầm, bởi vì thế thì con sẽ không bao giờ học được cái gì ngoại trừ việc đi theo - đó là chất độc, chất độc thuần khiết."

"Công việc của người cha hay người mẹ là lớn lao, bởi vì họ đang đem một vị khách mới vào thế giới - người còn chưa biết gì, nhưng người đem tiềm năng nào đó. Không cha mẹ nào thích nghĩ về con cái mình vẫn còn bất hạnh, họ muốn chúng được hạnh phúc. Vấn đề là cách nghĩ thông thường của họ là sai. Họ nghĩ nếu đứa con trở thành bác sĩ, giáo sư, kĩ sư, hay nhà khóa học, thế thì chúng sẽ hạnh phúc. Chúng lại không hạnh phúc!"

"Con cái chỉ có thể hạnh phúc nếu chúng trở thành điều chúng đã tới đây để trở thành. Chúng chỉ có thể trở thành hạt mầm mà chúng mang bên trong mình.

...Nỗi sợ của cha mẹ là con cái họ có thể đi theo hướng họ không thích - nhưng đó là vấn đề của bạn. Con cái bạn không được sinh ra để tuân theo cái thích hay không thích của bạn. Chúng phải sống cuộc sống của riêng chúng và bạn phải hân hoan rằng chúng đang làm như vậy - bất kì cái gì cuộc sống đang là."

quangcaopro - Theo tuanvietnam

1/14/2010

Tìm cái mới trong khả năng sáng tạo của người Việt chúng ta



Nguyễn Hoàng Đức


Cái mới không phải là cái cũ, nhưng, luôn đi ra từ cái cũ. Muốn tạo ra cuộc nhảy vọt mới người ta luôn phải xác định nhảy qua cái gì của quá khứ, hay đường rẽ mới luôn bắt đầu tạo khúc ngoặt ngay trên con đường cũ, và một bình minh mới luôn khởi sự mọc lên giữa một bóng đêm tàn. Vậy, hẳn nhiên, muốn đi tìm cái mới, chúng ta luôn phải bắt đầu nhận diện chỗ đứng của mình, con đường của mình, tầm vóc của mình... để sửa soạn một cuộc vượt mình đem theo toàn bộ sức nặng cũ phóng vào giữa lộ trình mới.
Nhận thức mình! Vượt mình! Phóng mình! Và thiêu đốt mình bằng một nguồn nhiên liệu không bao giờ cạn lao trên con đường đã mở của mình, càng xa càng tốt, đó hẳn là cuộc hành trình của kẻ hành hương cái mới trên con đường sáng tạo. Từ Socrates đến Nietzsche, nguyên lý hành hương cái mới có lẽ chưa từng khác đi. Socrates đã mở màn cuộc sửa soạn vượt mình bằng một khởi điểm "Hãy tự hiểu mình" (connais toi - toi même) đến Nietzsche thì nhận thức đó đã biến thành "con người là cái gì đó cần phải bị vượt qua."
Để vượt qua con người cầm bút của chúng ta, những Phạm, Trần, Lê, Nguyễn... chưa một lần bén mảng đến vòng ngoài của hào quang Nobel, chẳng còn cách nào khác hơn để chúng ta làm, là mở màn nhận thức toàn diện về mình, về chỗ đứng, về khả năng, về truyền thống, về dự phóng của mình... mong mở màn bước trên con đường mới tinh khôi và sung mãn. Bởi xuất phát từ nền tảng đó, tôi xin được đề cập những gì cốt yếu mà con người và nghệ thuật Việt Nam sống và trải nghiệm, mong được chia xẻ ở mọi khía cạnh, vừa khả lý vừa khả nghiệm, hay thông cảm, ngõ hầu chúng ta cùng hợp sức tìm kiếm một con đường sáng tạo lớn vì quê hương và cho quê hương.
Do hoàn cảnh thổ nhưỡng, cần vượt qua một chất thể nhu nhược
Nhờ xây dựng một công trình lớn, phải nhập các chủng loại đá từ nhiều nước về, một anh bạn kiến trúc sư của tôi cho biết: sở dĩ, chúng ta phải nhập đá xây dựng, vì đá của chúng ta chỉ chịu đựng được sức ép từ 300-500 kg (trên độ dày cm3?) trong khi đó đá nhập ngoại có thể chịu đựng được sức ép từ 2000-2500 kg. Qua khảo sát kỹ hơn, tôi nắm được, đá của chúng ta mới chỉ ở mức đá vôi - marble (chưa cho vào lửa đã chảy rồi), chỉ có một vùng đá nằm ở khu vực tỉnh Lai Châu mới nhú lên được chút xíu để mớm chân vào hàng đá granit non. Xin quí độc giả đừng vội sốt ruột! Sở dĩ phải đề cập kỹ về đá đôi chút, vì đá là xương của đất. Và dãy núi Hoàng Liên Sơn chạy thành dãy Trường Sơn chính là dải xương sống của miền đất quê hương. Chính vì mang trong mình một cột sống "đá vôi" người Việt ta có thể tạng uể oải, chóng mệt mỏi, chưa học, chưa làm đã muốn nghỉ. Vì thế, cái chí tiến thủ cũng chóng mỏi, không duy trì được khát vọng đi xa. Để hiểu thêm điều này, chúng ta hãy nghe các nhà toán học trong nước tâm sự: Việt Nam đoạt được rất nhiều giải thưởng cao trong các kỳ thi toán quốc tế, điều đó thật đáng tự hào về trí khôn của con em chúng ta. Song có một điều đáng tiếc, chúng ta có nhiều người học giỏi toán như vậy, nhưng lại không có nổi một nhà lý thuyết toán học tầm cỡ. Điều đó chứng tỏ, những con chim đầu đàn toán học của chúng ta mới chỉ đạt tới mức "làm chim công" múa may khoe khéo khoe khôn cho thiên hạ, sau đó tìm một nơi đậu đẹp để an toạ, chứ không muốn bay xa. Chúng ta sắm cho mình một đôi cánh thật lớn sau đó để tìm nơi đậu thật ấm, chứ không phải để phiêu lưu bay vào trong khoảng trời mênh mông giá lạnh.
Mặc cảm là một năng lực giúp con người trở thành vĩ đại. Chẳng phải một Napoleon đã mang theo mặc cảm đảo Corse trên suốt con đường trở thành hoàng đế của mình? Chẳng phải nước Anh từng mang nỗi tủi hờn về một xứ Anglo-Saxon bị người Norman khai hoá mà cố trở thành vương triều văn hoá? Và chẳng phải một nước Pháp vẫn mang nặng mặc cảm thất thủ nơi chiến luỹ Maginot trong cuộc chấn hưng sức mạnh của mình? Bởi thế, khi đề cập đến thổ nhưỡng "núi chưa cao sông chưa sâu" của quê hương, không có nghĩa là nói xấu Tổ quốc rừng vàng biển bạc, mà để gợi lên giữa lòng mặc cảm của chúng ta một sức mạnh muốn khắc phục chính mình. Người Việt vẫn nói "Đã yếu còn đòi ra gió." Không! Để hội nhập giá trị văn chương nhân loại, tất yếu chúng ta phải ra gió, không sợ gió, và đương đầu với gió! Tuy nhiên, phải bằng cách biết và lượng sức mình. Yếu hơn người thì phải chăm hơn người, "năng nhặt có ngày chặt bị." Ông cha ta đã để lại bài học: Phải miệt mài cắm cổ chạy như rùa thì mới mong thắng thỏ. Chứ đã chậm như rùa, lại vừa đi vừa tự ngắm mình, thỉnh thoảng lại leo lên mô đất cao bận rộn đăng quang mình, thì hòng gì có ngày kịp "thỏ".

Vượt qua cảm xúc bé mọn của nghệ thuật "phên-tre-nứa-lá" nhắm đến cảm xúc bi hùng kịch
Người Việt Nam nổi tiếng về tài bài binh bố trận thiết kế những cuộc thư hùng lẫy lừng lịch sử. Không chỉ thế, cả bi kịch cũng mang nỗi đau độc nhất vô nhị. Nói đâu xa, cuộc chiến dài đằng đẵng trong thế kỷ XX, Việt Nam đã trở thành điểm hội tụ sức nóng của các thế lực cường quốc trên hành tinh: nào chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, nào Liên Xô và Trung Quốc với Mỹ, Pháp, Nhật, Tầu Tưởng... Sau 30.4.1975, khi ngọn cờ "đại thắng" được kéo lên thì cũng là cờ hiệu cho cuộc rút chạy thê lương của một bộ phận dân chúng. Thế mà, cho đến nay, những cây bút "bên này" vẫn chưa viết được cuốn sách nào khả dĩ lột tả nổi tầm vóc của "đại thắng"; còn những cây bút "bên kia" cũng vẫn chưa viết nổi cuốn sách nào cô đúc được bài học của thất trận và bất hạnh. Tất cả mới chỉ dừng ở mức lột tả những tâm trạng, tâm cảm, hay tâm lý hiu hiu, nhè nhẹ, buồn buồn... nổi lên như một khúc kèn lá, hay một bài ca "sến" sướt mướt nào đó.
Quay lại chuyện thổ nhưỡng, một anh bạn làm đàn có kể với tôi: anh bạn đi suốt từ Bắc chí Nam, chọn gỗ, ngâm, phơi để làm một cây đàn dân tộc. Song thật kỳ lạ, bất kỳ khúc gỗ nào đã tẩm ướp phơi khô xong, khi gõ chỉ vang lên tiếng ngũ cung. Cuối cùng anh bạn chợt nhớ ra, ngay những chiếc đàn đá, đục khoét từ giữa vách núi, khi gõ lên cũng chỉ có ngũ cung (không cứ Ta, cả Tầu cũng vậy). Điều đó nói lên tâm hồn nghệ thuật của chúng ta từ trong thể chất vang lên đã khá nghèo nàn. Nhiều nhạc sĩ cả đời chỉ sáng tác được một giọng thứ hay một giai điệu na ná nào đó. Không khí nghệ thuật của quê hương thực tế còn khá nghèo và khá yếu. Bởi vậy, giới nghệ thuật trong nước đã đặt tên rằng: "nghệ thuật của chúng ta còn rất Phên-tre-nứa-lá."
"Phên-tre-nứa-lá" là gì? Chẳng hạn như một chiếc đàn Krông-pút được làm bằng những ống nứa chặt "ngẫu nhiên" ở trên rừng, và người chơi biểu diễn bằng cách vỗ tay vào. Điều đó nói lên trình độ nghệ thuật của chúng ta còn rất "rừng rú" - nặng bản năng - mới chỉ đạt ở mức hồn nhiên - tự nhiên chứ chưa đạt đến mức siêu tự nhiên. Và, nỗi buồn của tre nứa ngẫu nhiên mọc sổi trên mặt đất được chăng hay chớ làm sao có thể biểu hiện được những đau khổ lớn của con người. Trong khi đó những chiếc kèn đồng hay dây đàn được tinh chế, nấu chảy, và đổ khuôn bằng toàn bộ trí tuệ của con người đã rúc lên những nỗi buồn của những vỉa quặng được hun đúc hàng triệu năm trong lòng đất... Nếu quí vị không thích lối ví von này lắm, thì xin chia xẻ với tôi ý nghĩa biểu tượng của nó. Ngay từ trước công nguyên, người Hy Lạp đã thiết kế lên những nỗi sầu bi kịch, để tạo ra một nghệ thuật bi hùng, nhắm cứu rỗi định mệnh thảm kịch làm người. Trong khi đó, những nỗi sầu của văn chương và nghệ thuật chúng ta mới chỉ ở mức buồn nhớ hiu hiu, rầu rầu tâm trạng, hay bàng bạc nuối tiếc... Tôi tin chắc, đây là một lý do xác đáng, bởi lẽ cho đến nay văn chương và nghệ thuật của ta chưa đủ vóc tâm hồn lớn ngang với những biến cố đã sản sinh ra chúng.
Vượt qua con người tài tử nhắm đến con người chuyên môn
Nhìn nền văn chương Việt Nam thấy nổi lên ngay một tình cảnh bẽ bàng này: Dù các tác giả có nổi tiếng đến mấy chăng nữa, nhưng khi đọc, tra cứu danh tài của họ, thật ít ỏi làm sao! Chưa tìm đã xong! Chưa đọc đã hết. Ngay các tác giả nổi tiếng đương thời cũng chóng qua mau như những thời vụ, vài chục truyện ngắn, một cuốn sách lỡ cỡ giữa khoảng một truyện ngắn dài và một tiểu thuyết ngắn, dăm ba tập thơ mỏng mảnh... Đã thế trong nước, đa số nhà văn, nhà thơ dường như chỉ được phong tên ở giai đoạn đầu ngắn ngủi, sau đó các vị bận chuyển qua làm cán bộ thơ, thủ trưởng văn, hay gác cửa biên tập. Ngoài nước, thì đa số viết văn tài tử, chữ nghĩa chỉ là thứ bán chuyên nghiệp, lúc tiện thì viết. Danh dự chuyên môn của nhà văn rất cao, song danh dự đó cũng là một thách thức rất lớn. Chúng ta đứng trước một thách thức rằng: Chúng ta chưa giỏi, chưa giàu truyền thống, chưa giàu đỉnh cao, vậy mà chỉ viết văn 'nghề tay trái' thì bao giờ mới bằng nhân loại?
Vượt qua con người đời thường nhắm đến con người dấn thân cho nghệ thuật
Vì sao chúng ta mới chỉ viết văn bằng tay trái? Vì chúng ta còn mải lo kiếm sống bằng một nguyên do biện chính đầy mãnh liệt rằng cơm áo không đùa với khách thơ! Sự biện chính không chỉ nằm trong khuôn viên thơ. Điều đó có chính đáng không? Khi chúng ta còn quá bận tâm đến khuôn viên của chiếc dạ dày, thì làm sao còn sức để mở rộng biên giới của khuôn viên văn chương. Một lần, nghe một vài nhà văn của ta cứ ca thán về điều kiện vật chất eo hẹp của Việt Nam, các nhà văn, các nhà khoa học chưa được đáp ứng đầy đủ điều kiện để làm việc, nên chưa có được tác phẩm và công trình lớn, tôi có đáp lại họ rằng: "Nước Đức là nước có truyền thống trọng dụng các nhân tài khoa học, vậy mà quí vị thử xem họ đã bỏ đói Emmnuel Kant như thế nào? Và chính bản thân Kant, ông có bao giờ bị ám ảnh dù chỉ một lần về sự nghèo túng của mình, hay ông chỉ luôn thao thức về những đề tài suy tưởng?" Một lần khác, nghe dăm nhà thơ kêu nỗi lo phải chạy vạy nỗi khó khăn đời nên họ không toàn tâm cho thơ được, tôi có thưa với họ: "Chưa nói đến việc các anh sợ nghèo, chỉ nói đến nỗi cô đơn thôi, các anh đã không một lần dám chấp nhận việc gánh vác nó." Họ đều im lặng.
Nghèo đói, cô đơn là đức dấn thân đầu tiên của nghệ thuật. Đó là chưa kể đến các đức dấn thân lớn hơn cho công chính, tự do, và bác ái... Nếu chúng ta lẩn trốn những con đường dấn thân đó thì nghệ thuật đến với chúng ta bằng ngả nào?
Vượt qua con người bình thường nhắm đến con người đối thoại
Từ cổ đại đến nay, cốt lõi của mọi loại hình nghệ thuật là đối thoại. Đó cũng là yếu tố đầu tiên của mọi văn phẩm mà Aristotle đã chỉ ra là story. Plato nói: "Suy tư là đối thoại, khi một người suy tư, anh ta thủ các vai trên sân khấu trí tuệ của mình. Anh ta hỏi, anh ta trả lời câu hỏi của mình. Rồi anh ta tự đánh giá lấy." Cái yếu đầu tiên của nền văn học chúng ta là kịch tính - bởi vì tính đối thoại yếu! Các nhân vật lờ phờ nói chuyện với nhau, bởi thế không thể đánh lửa lên cho các cuộc xung đột tìm kiếm tâm lý, cảm xúc, sự thật, hay lý tưởng. Hơn cả thế, nền văn chương dậm chân quá lâu tại những kinh nghiệm và quan niệm bởi nó không có được không khí luôn luôn đối thoại để cọ sát trí tuệ. Nhìn qua Âu - Mỹ thấy nền văn học của họ phát triển nhanh nhờ bởi các sinh hoạt đối thoại trí tuệ luôn luôn diễn ra tại các salon văn học. Không đối thoại tức là từ chối trí tuệ, và từ chối sự thẩm giá tác phẩm cũng như không khí sinh hoạt cho nền văn. Một nhà thơ Việt Nam đã ví "các nhà thơ đi đâu cũng giống con ốc cõng theo nhà" vừa từ chối đối thoại, vừa lẩn trốn đối thoại. Là hiệp sĩ thì phải so kiếm mới thấy được tài ba, mong rằng nền văn học của chúng ta sẽ xây dựng được không khí đối thoại để giúp nhau đào luyện và nâng cao bản lĩnh cho bút mực.
Vượt qua những ông thầy
Người Việt có một niềm tự hào và cũng là một nỗi khổ, đó là hiện tượng Nguyễn Du "viết một lần cho tất cả" và "ca ngợi một lần cho xong". Các cây bút hậu thế lúc nào cũng vừa rụt đầu rụt cổ chiêm ngưỡng vừa luôn đem bức tượng đài Lục Bát đó ra làm bảo bối bảo hiểm cho danh dự của cả nền văn học mọi thời và mọi chỗ. Chưa hết, nhiều người còn tự hào về thơ Đường như thơ của dân tộc mình và coi nó như một đỉnh cao đã xây sẵn trong quá khứ chẳng cần xây gì thêm nữa cả.
"Đồ đệ ấy sẽ phản bội thầy, bởi chính đồ đệ ấy cũng có sứ mệnh phải làm thầy." (Nietzsche) Đã đến lúc, chúng ta không chỉ bò theo con đường của Nguyễn Du, mà phải tạo ra một Nguyễn Du khác, nhiều hơn nữa, hai, ba, hoặc vô vàn Nguyễn Du khác... càng nhiều càng tốt. Và đến lúc chúng ta hãy trả giá trị thơ Đường cho nền văn hoá Trung Quốc lưu kho bảo tàng. Chúng ta đừng tình nguyện làm thủ kho cho một nền thơ cách đây hơn cả ngàn năm mà chính người Trung Quốc đã và đang muốn vượt qua.
Để kết luận, tôi xin được nói rằng, sáng tạo cái mới, tức là không ngừng vượt qua tất cả từ địa vị, khả năng, đến những ông thầy của mình. Và hãy phiêu lưu về phía trước để gặt hái những giá trị mới, để làm nên những diện mạo mới, và xây lên những tên tuổi mới! Đừng trở thành kẻ giữ kho để thủ đắc một sự an toàn duy nhất "ta sẽ không chết đói giữa dòng trôi của cuộc đời". Xin hãy dời bỏ những kho tàng quá khứ! Xin hãy lao về phía trước! Hoặc ta là thành công của ta! Hoặc ta là thất bại của ta! Dù thế nào chăng nữa ta cũng đã hoá kiếp một đời sống ru rú thủ kho!

Chất hiện đại trẻ?





Đỗ Hoàng Linh
Tản văn "Quà đêm"



Là một phạm trù tập nhiễm khó lý giải nhưng dễ nhận biết. Bất luận cái gì cũng có thể ghép với từ này được. Ví như: nhịp sống, phong cách, hơi thở, thời trang, lối sống, vui chơi, giải sầu, tiêu khiển, thư giãn hay thậm chí cưới xin hay tang ma cũng có ảnh hưởng của chất hiện đại, đặc biệt nhanh nhạy với chất này là cánh trẻ. Do ảnh hưởng to lớn và sức lan truyền quá rộng, hẵng khoan khoan vội vàng, để từ tốn lần theo cội nguồn ngô khoai của nó như từ điển ngôn ngữ tiếng Việt giải thích: thuộc thời đại ngày nay; có tính chất tinh vi trong trang bị, máy móc được sử dụng. Nhưng thực tế cuộc sống thì kết luận: hầu như tất cả những gì ngoại nhập, mới lạ, đắt tiền, có sức hấp dẫn sở thích cá nhân và thu hút sự chú ý của xã hội đều có thể coi là hiện đại. Phải thừa nhận rằng tính hiện đại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội hiện nay: đời sống được nâng tầm văn minh, tiện nghi đầy đủ hơn nhờ khoa học kỹ thuật tiên tiến, nối mạng, vệ tinh, âm thanh vòm nổi, hình ba chiều, màu thật như mơ, mùi quyến rũ, vị tùy thích tận hưởng… thế nhưng, chợt có người chép miệng lắc đầu: lớp trẻ hiện nay sùng bái cá tính và sự khác người, ghét hiện tượng coi là cổ, dồn hết tâm trí để lên đời, vậy thế nào là quan điểm tư tưởng và biểu hiện của chất hiện đại?
Trước hết, ta tập hoan hỉ mê say bàn luận về thời trang hiện đại trẻ. Đã xa lâu rồi mô đen bò cả cây, nhồi nhét bó cứng cựa và mốt lụng thụng cũng không phù hợp nữa, bây giờ phải xài đồ liên hợp quốc, đa quốc gia phối hợp mới xịn: mua hoa Pie-Cácđanh, tóc nhuộm Hàn Quốc, kính mát Gucchi, dây chuyền J. K. G., nhẫn kim cương Newwatch, đồng hồ Thụy Sĩ, ví da Dunhill, giày Pháp, quần Mỹ thụng trên bó dưới, áo chẽn trong phai phui ngoài kiểu Yves, cà vạt lụa Versace, nước hoa Channel 5, di động khối E.U., xe máy Nhật, xe hơi Đức và bật lửa hoặc bộ cắt móng tay Hồng Kông… vậy là bức tranh toàn cảnh về thời trang cấp tiến tương đối hoàn thiện. Đã bao giờ bạn thử mang một trong những hiệu kể trên chưa, chắc sẽ tự tin và yêu đời hơn, huống chi cánh trẻ một khi trang bị đầy đủ như thế thì hào khí bừng bừng phải biết. Mà đã có đồ, vật dụng tân tiến sẽ dẫn đến phong cách hiện đại được thể hiện tập trung qua nmỗi động tác gắp đũa ăn: thật cảnh vẻ, ngửi hít kỹ càng, lựa toàn món giàu đạm ít béo, bỏ thừa khá nhiều trên bàn ăn, cao giọng phê phán thịt cá, ưa rau cháo tương cà; từng hớp uống: dùng đồ hộp để lạnh, tránh dùng đá đến mức tối đa, bia và rượu là chủ đạo, càng uống được nhiều càng tốt, dùng loại giá càng cao càng xịn, lỡ say xỉn đã có tắc-xi; phương pháp trả tiền cũng phải phóng khoáng bất cần: tiền lẻ coi như không thèm để ý lấy lại nhưng đánh giầy cả đôi chỉ hoạnh họe trả tiền một chiếc; dáng đi đứng thiên nhiên: khuỳnh khoàng, ghé mông ngồi bất kể chỗ nào dù cao thấp bẩn sạch vô tư, gọi điện thoại rõ oang oang, kéo dài giọng, đứng lâu chỗ đông người càng tốt, đặc biệt là ngôn ngữ khẩu khí thì miễn tranh luận – toàn những từ đêm mà bách khoa thư tiếng Việt chưa chắc giải thích trọn vẹn được; thế rồi ưa tốc độ tự do: phóng xe dàn hàng ba, đèo kẹp bốn rùng rùng trên đường phố không lo chi vì đã mua bảo hiểm Prudential cả trăm triệu rồi.

Công việc làm ăn của cánh trẻ chưa chắc đã được ổn định, học hành bập bõm, băm xé ngang dọc nhưng họ chung sống với bài bạc thâu đêm, rầm rập ùa vào vũ trường, ông ổng karaôkê, mệt thỉu píc níc, say mèm bia rượu rồi miệt mài bi-a, tennis, sân gôn cho oai. Khi bị phỏng vấn chộp, rất nhiều đại diện giới hiện đại giải thích na ná nhau dạng: Đời là mấy tí, cứ xả láng đi, sau chán rồi làm lại cuộc đời; hoặc lên giọng răn dạy: không tranh thủ ăn chơi nhảy múa, lỡ dính ung thư hay AIDS có phải tiếc đời không; hay khoát tay gạt phắt: việc ai nấy lo, đủ tiền ăn chơi được là tốt rồi… từ những ý tưởng trên nhiều người tặc lưỡi thử cái chết trắng hay nàng tiên nâu cho biết mùi đời, khi biết được cay đắng thì đời đâu còn nữa? Bị cuốn theo dòng chảy khẩn trương bộn bề sự kiện cập nhật của cuộc sống nên giới trẻ chắc không còn thời gian tạm dừng để nhận thức xem mình đang đi hướng tới ngưỡng nào trong thời hiện đại. Nói từ kỹ thuật là cuộc sống bây giờ như tốc độ đẩy phi thuyền con thoi lên vũ trụ, nhưng tiếng dân dã nôm na là tàu nhanh, hết mình V-A-C (vui ăn chơi). Đã xưa rồi câu ăn nhanh- đi chậm – hay cười, nay cần ăn ít, học chậm, hay uống mới ngầu, và sự thật rất nhiều thanh niên, sinh viên, học sinh ngồi khề khà nâng lên đặt xuống ở các quán bar, cũng gật đầu cụ non: đồng tiền đi t rước là đồng tiền khôn? Nghe mà nhói đau lòng. Có thể một phần những tấm gương đục mờ tham ô, thụt quỹ, bớt xén của công làm giàu cá nhân hoặc bài bạc xả láng, ăn chơi vung vãi tiền chùa gây ảnh hưởng không tốt chăng? Một số thanh niên mới lớn hoặc sinh viên mới ra trường, chưa tự kiếm sống nuôi bản thân được, ngày ngày năn nỉ xin tiền cha mẹ, vay mượn bạn bè, cũng đua đòi lao vào vòng xoáy chịu chơi: bỏ học, uống rượu, đề đóm, lúc thi dùng phao, phao xịt thì bơm tiền, mua đề, xin thầy. Đêm cao điểm ở các nhà hàng, vũ trường, quán cafê không thể đếm xuể những mái đầu còn xanh cố nhuộm vàng tô đỏ nhếch nhác loang lổ ra sức hú hét quay cuồng, dốc cạn ừng ực đầm đìa tới nửa đêm khiến nhiều người thắc mắc: sao họ khỏe thế? Dùng thuốc gì chăng? Tiền ở đâu ra mà xông xênh vậy? Xả láng thâu đêm bố mẹ không biết gì sao? Kiệt quệ vì chơi hết mình thế thì học thế nào? Chưa hết, dọc theo nhiều tuyến phố chính, những kẻ lên cơn tháo phanh, bỏ bô xe, rú máy lao với tốc độ cuồng điên bất cần đời, bỏ qua phép nước, coi thường mạng sống của mọi người và của chính mình, có sứt đầu mẻ trán gãy chân tay gây tai nạn cũng chấp nhận chơi phải chịu, còn lỡ bỏ mạng thì coi như tử vì đạo đua xe? Thật vô nghĩa! Kết quả của những cuộc V-A-C hiện đại đó như thế nào thì ai cũng rõ và quá đủ để các bậc phụ huynh suy nghĩ, đừng nên tặc lưỡi tự an ủi: thôi thì cá chuối đắm đuối vì con. Nếu hy sinh hết thảy để con cái nên người, có tương lai tốt đẹp hơn thì cha mẹ nào tiếc, nhưng hết lòng vì con cái để chúng đốt cháy tương lai bằng khói và rượu, thậm chí tự hủy hoại bản thân thì các bậc phụ huynh liệu có áy náy chăng?
Vấn đề cơ bản nhất để xét đoán và quy kết bản chất câu từ hiện đại không phải là phạm trù ngôn ngữ, mà chính là cách tư duy sai lạc, biến tấu lầm lẫn về cả ngữ nghĩa và hành động. Người Việt chúng ta vốn có truyền thống cần cù, thông minh, ý chí quật cường, giàu lòng bác ái, không bao giờ muốn phụ thuộc, luôn tự hào về truyền thống văn hóa riêng của mình. Thế mà một số chủ nhân tương lai của đất nước nỡ nổi cơn vui đến mức ghét chữ, học đòi chất hiện đị, trong khi các bậc phụ huynh lại xao lãng trách nhiệm và nghĩa vụ để mặt trái của tính hiện đại gặm nhấm dần nhân cách con em mình? Đành rằng chẳng có ai thật hoàn mỹ, chẳng có gì quá trọn vẹn nhưng đã đến lúc cần phải nghiêm túc cân nhắc phân minh cái lợi hại của trào lưu hiện đại, để chắt lọc tinh hoa, loại bỏ những tạp chất vẩn đục nhằm giữ gìn và trân trọng những gì thanh lịch, đáng yêu nhất của bản tính người Việt. Nên suy ngẫm câu nói của cổ nhân: Hay đến mức mọi người đua nhau khen là cái hay rất dở! Đẹp đến nỗi thiên hạ thi nhau bắt chước là cái đẹp rất xấu?